thienthutaytang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thùy Dung
Ngày gửi: 20h:06' 02-07-2025
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thùy Dung
Ngày gửi: 20h:06' 02-07-2025
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Hãy đến, để tôi chỉ cho bạn Con đường
Chaktsel
Đỉnh lễ
Tôi biết bạn, tôi đã có một linh ảnh về bạn ở sâu thẳm trong thiền
định, và tôi đã chạm tới bạn, tôi đã gieo một hạt giống, và giờ đây tôi
có một nhân duyên tốt lành để có thể nói với bạn, thông qua cuốn
sách này. Mong ước sâu thẳm nhất của tôi là được chia sẻ với bạn sự
thiện lành lạ thường được truyền xuống qua tôi bởi tất cả các Đức
Thầy thiêng liêng mà tôi đã được thọ nhận.
Tôi thật sự rất may mắn. Tôi đã có điều tốt nhất ở các Đức Thầy
hướng dẫn tôi từ ngày đầu tiên. Hãy để tôi được dành một khoảnh
khắc ở đây, để được trào dâng lên lòng biết ơn sâu sa tới họ, và rồi
trao cho bạn một hình ảnh nhỏ của người đang nói thông qua tôi.
Đầu tiên và trước hết là Vị Thầy và Người Hướng Đạo của trái
tim tôi, Geshe Michael Roach (Geshe: bằng cấp cao học của Phật học
Tây Tạng), Bậc Linh Ngộ Tính Không, người nắm giữ chân lý, người
bạn đồng hành trọn đời, cuộc sống tuyệt đỉnh của tôi, không có
Người mọi thứ đều trở thành không thể, với bất kì sự kết tinh tinh
túy nào mà tôi có, chính là Người đã lan tỏa và trút nguồn ân sủng
vào tôi.
Đức Thầy tôn kính, con xin được tựa đầu, vầng trán này của con
tới bông hoa sen ngự dưới đôi chân thần thánh của Người.
Và rồi, trong lời chỉ dẫn xuất hiện…
Mẹ yêu dấu của con, tình yêu của con, người đã dạy con làm thế
nào để nghe tiếng bước chân của một ai đó, và người hết lần này qua
lần khác đã chỉ cho con bài thực hành cao vợi về việc trao đi cuộc
sống của mình vì lợi ích của kẻ khác.
Cha của con, trái tim thật lớn lao, người đang chỉ cho con niềm
kiêu hãnh tột bậc trong việc phụng sự mọi người không ngưng nghỉ
với niềm hoan hỷ phúc lạc.
Greg Linington, vị hoàng tử quý phái, người đã mở ra cánh cửa
đến với con đường tối thượng.
Mark Neack, người đã dẫn tôi đến một thế giới khác biệt, người
đã dạy tôi làm thế nào để sáng tạo.
Shri Sharon Gannon, Bậc Vô Úy (không ngăn ngại, không sở
hữu), và David Life Ji, linh hồn nhẹ nhàng quyền quý, người đã hút
tôi tới Ấn Độ - Mảnh Đất của Các Bậc Tĩnh lặng.
Tu sĩ chính thức được biết đến là Guy Rom, một vị Phật trẻ trung,
người đã tỏa ra nguồn động viên khi tôi thực hành ngồi những bài
thiền định đầu tiên của mình.
Karen Valham tôn kính, Bậc nhẫn nhục, Vị minh sư ẩn dật, Đức
Thầy Đạo Pháp chính thức đầu tiên của tôi trong đời này.
Khen Rinpoche Geshe Lobsang Tharchin, Đấng Chinh Phục Tự
Ngã, người tiếp nối không gián đoạn dòng truyền thừa vĩ đại này tới
chúng tôi, những người phương Tây điên rồ.
Robina Courtin kính yêu, mạnh mẽ và tốt tính, người đã đến và
nắm lấy tay tôi.
Sermey Geshe Thubten Rinchen, bậc có tâm trí mênh mông như
một bầu trời tự ngã, người đã đẩy bật những luận điểm của tôi vượt
lên khả năng thông thường của nó, và chính Người đã chỉ cho tôi
những con đường.
Gyume Khensur Rinpoche, vị sứ giả hòa bình, người đã ban cho
tôi bí mật.
Lama Zopa Rinpoche, người bạn tinh thần mến yêu nhất, người
đã mang đến những lời khuyên tối thượng và là người luôn luôn ở đó
mỗi khi tôi cần.
Geshe Lobsang Thardo, người mẹ, vị minh sư của pháp môn Yoga
Guru, bậc đạo sư vĩ đại, người đã gõ đầu tôi một cách tuyệt vời khi
cần thiết.
Bậc Thông Thái và trọn lành Gene Smith, vị Yogi bí mật, người đi
vào sâu thẳm bên trong cảnh giới của tâm trí.
Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đôi Mắt Yêu Thương, người đã trao cho
chúng ta món quà vô giá của việc mở ra những lời dạy này tới thế
giới, và cũng chính Người đã mang đến cho tôi câu trả lời cho những
lời nguyện cầu của mình.
Pandiji Kanheya Sharma, Vị Chúa Tể của Vũ Điệu, ô cửa đi vào
Kashi của tôi, người đã tặng cho tôi nước và lửa.
Swami Swaroopananda Ji, nhà hiền triết cổ xưa, người dạy cho
tôi về nguồn gốc của phúc lạc.
Tất cả các bậc thầy truyền thừa Ấn Độ, những vị đã chỉ cho tôi
một cái nhìn khác của cùng một lối mòn, có thể kể một vài tên tuổi
như: Dharma Mittra Ji, Shri Pattabhi Jois, và Quý bà Ruth Lauer…
Trace Murphy, biên tập viên xuất sắc đã đặt niềm tin vào tôi, và
Jon Sheer, người đã xuất hiện đúng lúc để giúp đỡ tôi.
Cuối cùng là những sinh viên thiên thần ngọt ngào ở Trường Đại
Học Núi Kim Cương của tôi, mục đích của đời tôi, những người đã
không ngừng chỉ cho tôi định hướng đúng đắn, và không ngừng đẩy
tôi lên cao hơn nữa. Đặc biệt là Rob Ruisinger, bậc thầy về thiết kế
của tôi; và Alistair Holmes, James Connor cùng Ian Thorson, những
cộng sự đã giúp tôi viết nên cuốn sách này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các Đức Thầy Thiêng Liêng
trong hiện tại và quá khứ, tới những hạt giống mà chính tôi cũng
không thể tưởng tượng ra được mình đã gieo trồng.
Nhưng có lẽ đó chưa phải là tất cả để thúc giục tôi viết nên cuốn
sách này, tôi phải trở thành vị Thầy của chính mình – điều thúc đẩy
tôi lên một bước xa hơn trên con đường vươn tới mục đích tối hậu.
Tôi vô cùng biết ơn và xin đỉnh lễ trước bạn vì điều đó…
Đôi điều về tác giả
Cuộc đời thật lạ. Cho tới năm 21 tuổi, tôi chưa bao giờ được nghe
về thiền và lúc đó Tây Tạng đối với tôi chỉ là một chấm đen bé nhỏ
trên bản đồ mà thôi. Và tôi đã đi tới phương Đông, rồi mọi thứ đã
thay đổi.
Hãy hình dung – bạn mở một cuốn sách thiền của Tây Tạng ra, và
những gì được viết ở bên trong lại chính là sự mô tả một cách chính
xác về những cảnh tượng bạn đã thấy như một đứa trẻ trong các giấc
ngủ.
Hãy hình dung – bạn gặp ai đó lần đầu tiên, và trái tim của bạn
bỗng ngập tràn niềm vui khi được gặp lại họ đến mức bạn òa khóc vì
niềm vui đó.
Hãy hình dung – bạn được dẫn qua những hành lang của một tu
viện Tây Tạng, bên trong một căn phòng nhỏ và tối, nơi chỉ có một vị
tu sĩ già, người bạn chưa từng gặp trước đó vui cười với bạn như thể
nhận ra bạn, cúi đầu trước bạn và dâng tặng những món quà thanh
khiết, cao quý cho bạn.
Hãy hình dung – bạn chưa bao giờ từng ngồi thiền, vì vậy bạn
quyết định thử và lập tức bạn được đưa đến một nơi nào đó… cao
hơn.
Hãy hình dung – bạn đang nhìn chăm chú vào đôi mắt vị Thầy
của trái tim mình, khi khuôn mặt của họ bắt đầu biến đổi, dần dần
chuyển thành khuôn mặt của Một Người bạn đã biết từ rất lâu rất lâu
trước đây.
Thực sự trước đây tôi chưa từng nghĩ về chuyện tái sinh, nhưng
khi sự thật hiển nhiên về quá khứ sống lại một cách nhanh chóng
trước tôi rõ ràng khiến tôi quan tâm đến điều này hơn. Tôi thật sự là
ai? Có phải là một cô gái từ California, hay tôi cũng là một yogi. Một
vị La Ma vĩ đại của Tây Tạng?
Đây không phải là lần đầu tiên – chúng ta đã từng ở đây và nó
nhiều hơn tất cả những gì chúng ta cảm thấy dường như là vậy.
Chúng ta đã cùng đi trên con đường này trong nhiều kiếp. Những
chuyện xảy ra chớp nhoáng với tôi sau khi tôi gặp được những lời dạy
này, như người ta hay nói tất cả diễn ra chớp nhoáng như một cú
cướp cò súng, như một giọt nước nhỏ tí xíu, và rồi tất cả hạt giống
trong tâm trí bạn mở ra như một bông hoa và bạn được đưa tới nơi
mà bạn đã bỏ dở trong kiếp sống trước. Đây chính xác là những gì xảy
đến với tôi, và tôi hi vọng rằng cuốn sách này có thể làm một cú cướp
cò súng như vậy với bạn.
Chỉ vài năm ngắn ngủi sau đó, tôi đã tìm cho mình một trong
những thực hành khắt khe nhất mà bạn có thể làm – cái mà họ gọi là
Nơi Nhập Thất Vĩ Đại, bạn cho phép mình đi vào một nơi biệt lập để
thiền định trong ba năm, ba tháng và ba ngày. Không nói chuyện,
không gặp gỡ một ai khác, không có bất cứ loại liên lạc giao tiếp nào
với bên ngoài – chỉ một mình bạn thám hiểm vào trong những đại
dương sâu thẳm nhất của tâm trí mình.
(Nếu điều này nghe thật lãng mạn, như thể bạn sẽ muốn thử nó
thì tôi khuyên bạn hãy thử bắt đầu với một tuần lễ. Hãy ở một mình,
chỉ mình bạn với tâm trí của riêng mình được thách thức mà thôi.)
Chúng tôi có sáu người và chúng tôi tìm đến nơi xa xôi hẻo lánh
trên sa mạc Arizona – một nơi chưa từng có người sinh sống, một nơi
hoang sơ đến mức mà chỉ có loài chó sói Bắc Mỹ và sư tử núi hiện
diện ở đây.
Chúng tôi đặt mua những chiếc lều tròn nhỏ từ Mông Cổ được gọi
là “yurts” – nó có cọc chống bằng gỗ với rơm, được che phủ kín bằng
nỉ và vải bạt, có mái vòm kính ở trên nóc lều để đón ánh sáng.
Chúng tôi tìm ba người giúp việc sẵn sàng đi cùng và ở lại với
đoàn, họ giúp chúng tôi mang thực phẩm và nước hai lần trong ngày,
và sau đó chúng tôi dựng những hàng rào nhỏ quanh những chiếc lều
yurts với một chiếc hộp ở một bên, như vậy những người giúp việc có
thể để đồ ăn và nước uống lại mà không cần phải nhìn thấy chúng tôi
Chúng tôi ở đó từ ngày mùng 3 tháng 3 năm 2000 cho đến mùng
6 tháng 6 năm 2003, trong trạng thái hoàn toàn cắt đứt với toàn bộ
thế giới bên ngoài.
Làm thế nào để giải thích cho bạn tất cả
Dòng truyền thừa
Thiền định ở Tây Tạng có một lịch sử lâu dài. Trên thế giới thì
người Tây Tạng là những người đã sẵn có khả năng chinh phục được
cảnh giới vô tận của tâm. Trong lĩnh vực đặc biệt này, họ đã đi tiên
phong rất lâu trước các nhà khoa học tây phương vĩ đại nhất. Những
thiền giả vĩ đại của Tây Tạng được biết tới bởi những kì tích thần giao
cách cảm phi thường, và người ta nói rằng, thông qua sức mạnh của
tâm trí, họ có thể điều khiển, chi phối được thời tiết, chữa lành bệnh
tật và thậm chí là bay trên trời. Trong khi có thể bạn tin hay không tin
vào tất cả những điều này thì chúng ta vẫn phải thừa nhận tất cả rằng
có cái gì đó đặc biệt, lạ lùng về người Tây Tạng. Chúng ta khỏi cần tìm
đâu xa xôi, chính Đức Đạt Lai Lạt ma hiện tại – người đã hiến dâng cả
cuộc đời mình cho nền hòa bình, và chính ông đã đi khắp thế giới để
giảng với mọi người làm cách nào để yêu thương người khác – từ con
người ông chúng ta có thể suy luận được rằng có điều gì đó mà chúng
ta nên học hỏi từ người Tây Tạng.
Tất cả bắt đầu vào khoảng năm 750 sau Công Nguyên, khi một vài
vị Lạt Ma vĩ đại người Ấn đã bất chấp chuyến đi dài ngày vất vả băng
qua dãy Himalaya để đến và dạy nghệ thuật thiền định cao cấp cho
người Tây Tạng. Vào lúc đó, Tây Tạng chỉ thuần túy là một vùng thôn
quê hẻo lánh, cư dân đa phần là những người nông dân và người du
mục chăn nuôi yak (một loại trâu của Tây Tạng). Nhưng chính sự
thôn dã, giản dị này đã mang những lời truyền giảng của các Lạt Ma
Ấn Độ đi vào tâm khảm và tạo nên nét riêng biệt cho người dân Tây
Tạng. Để rồi Tây Tạng trưởng thành trong sự giàu có và sở hữu một
nền văn hóa đặc sắc như chúng ta thấy ngày nay.
Đặc biệt có một đức Lạt Ma vĩ đại từ Ấn Độ, Ngài được biết đến là
người đã mang sự truyền giảng về thiền định tới Tây Tạng. Tên của
ngài là Thầy Kamalashila. Trong khi ở Tây Tạng truyền giảng, Ngài đã
viết một cuốn sách chỉ dẫn ngắn gọn về việc thiền như thế nào, và
cuốn sách này đã trở thành luận thuyết cổ điển cho chỉ dẫn thiền định
– một tác phẩm rất nền tảng của tất cả các loại thực hành thiền định
Tây Tạng cho đến ngày hôm nay.
Chân lý trong những lời giảng dạy của ngài đã bật sáng ngọn lửa
bên trong người Tây Tạng, và từng người một trong họ đã đi vào
những hang động để thực hành. Vài nhân vật như Milarepa lừng lẫy,
người được biết đến với 100.000 bài tụng ca để lại do ông viết về sự
hành thiền của mình, hay đệ tử của ông, Gampopa, người khởi thủy
dòng thiền truyền thừa danh tiếng Đại Thủ Ấn (Mahamudra). Ở đó,
từng người bọn họ đi đến một sự hiểu biết sâu sắc dựa trên trải
nghiệm về những lời giảng dạy này, rồi sau đó họ lại truyền dạy cho
những người khác. Và như vậy dòng truyền thừa liền mạch không
gián đoạn từ thầy xuống trò, mỗi một thiền giả mới sau này lại để lại
lời dẫn giải sâu sa từ chính trải nghiệm riêng của mình.
Bởi thế mà ngày nay chúng ta có hàng ngàn bản văn Tây Tạng soi
sáng cho chúng ta những gì cần để thiền, thiền như thế nào, và tại sao
phải thiền. Chỉ có một vấn đề? Chúng đang ở Tây Tạng! Phần lớn
những bản văn này vẫn chưa được phiên dịch, và mặc cho vài học giả
phương tây đang cố gắng, nhưng sẽ phải mất 150 năm nữa để hoàn
thành công việc dịch thuật này.
Đó là nguồn gốc ra đời của cuốn sách này. Cuốn sách này là một
sự tổng hợp tất cả những lời dẫn giải từ những bậc thượng sư vĩ đại
Tây Tạng về thiền, bắt đầu từ Thầy Kamalashila và tiếp nối cho đến
những Lạt Ma hiện đại ngày nay, tới khi nó được truyền thừa xuống
cho tôi bởi các Đức Thầy Thiêng Liêng. Và cứ thế dòng truyền thừa
được tiếp tục liền mạch – từ Ấn Độ, tới Tây Tạng và trên những vùng
đất phương Tây, một cách không gián đoạn, thẳng đến bạn.
Tại sao lại Thiền?
Có nhiều lí do giải thích cho việc tại sao người ta hành thiền. Có
người nói thiền mang lại cho họ một tâm trí bình an hơn. Đúng là
như vậy. Những người khác sẽ nói với bạn thiền làm tâm trí sắc bén
và sáng tạo hơn, vì thế bạn có thể làm được nhiều việc hơn. Điều này
cũng đúng. Và một số ít người lại nói họ chỉ cảm nhận được tình
thương yêu từ thiền.
Một khi bạn lặn xuống dưới sâu mặt nước, bạn sẽ khám phá một
nơi đẹp đẽ trong suốt như pha lê – tựa như một viên kim cương ẩn
tàng bên dưới lớp đất khoáng chất. Đó chính là tâm trí của bạn, khi
đã gột rửa được mọi lớp vỏ bên ngoài. Và lúc này bạn thậm chí không
thể hình dung được những điều kinh ngạc nào bạn có thể làm với nó.
Những nhà khoa học hiện đại nói với chúng ta rằng con người chỉ
đang sử dụng được một phần nhỏ bé khả năng của não bộ. Vậy điều
gì sẽ giúp chúng ta đánh thức phần năng lực lớn lao còn lại của não
bộ? Điều đó hoàn toàn có thể được, nếu bạn học cách thiền.
Muốn gia tăng chỉ số IQ(1) của bạn? Hãy thiền. Muốn trở nên sáng
tạo hơn? Hãy thiền. Muốn trở nên bình an hơn? Hãy thiền.
Tất cả những điều này sẽ đến nếu bạn hành thiền, nhưng chúng
thực sự mới chỉ là những kết quả phái sinh phát xuất trong quá trình
thiền mà thôi: giống như là những điều đến tự động khi bạn nỗ lực
cho một thành quả cao hơn. Có những nguyên nhân sâu sa hơn trong
việc học thiền.
Người Tây Tạng nói chúng ta chỉ mới bắt đầu quá trình thức tỉnh
– vẫn có một con đường đi vào tiến trình tiến hóa của nhân loại. Và
nó không phải là việc tạo ra những con tàu vũ trụ hay những bộ máy
vi tính. Bước tiếp theo trong sự tiến hóa nhân loại diễn ra ở bên
trong.
Chúng ta được sinh ra với khả năng tiềm tàng không thể tưởng
tượng được này, nhưng hầu hết những tiềm lực đó lại đang ngủ sâu
bên trong chúng ta. Chúng ta giống như là những chú chim non vẫn
đang nằm trong vỏ trứng, vẫn chưa hoàn toàn ý thức được về bầu trời
rộng mở thênh thang phía trên mình vốn có thể là của chúng ta.
Chúng ta nghĩ lớp vỏ trứng này là tất cả những gì có trong cuộc sống,
và rồi chúng ta tự giam hãm thân thể, tâm trí mình trong giới hạn của
tầm nhìn và các hoạt động. Chúng ta cần học cách làm thế nào để làm
vỡ, khai mở lớp vỏ trứng kia ra và tung bay tự do trên bầu trời thênh
thang rộng mở.
Và nếu bạn nghĩ về điều này, có lẽ bạn sẽ ý thức được điều này là
sự thật. Có lẽ bạn có thể cảm nhận được khát khao tinh tế bất biến
này trong tâm trí mình ở một mức cao hơn. Chúng ta không được
mang tới đây chỉ để ăn, ngủ rồi sinh con đẻ cái và lại chết đi. Không,
cuộc sống của bạn có một ý nghĩa sâu xa hơn rất nhiều. Sự có mặt của
bạn trên cõi đời này cao thượng và vĩ đại vô cùng. Và có lẽ tôi có thể
chỉ cho bạn con đường.
I. Ngenjung: Cần Phải Giải Thoát
Đổ vỡ
Người Tây Tạng nói chúng ta sống trong một cảnh giới bị đổ vỡ,
và chỉ bằng cách học nghệ thuật thiền định chúng ta mới có thể biết
cách khắc phục nó.
Vậy điều gì chính xác của từ “đổ vỡ” mà họ nói đến?
Khi nào là lúc lần đầu tiên bạn nhận ra rằng cuộc sống không có
một hồi kết hạnh phúc? Có lẽ đó là ngày bạn được biết căn bệnh ung
thư của dì bạn sẽ không có gì tiến triển tích cực hay có lẽ đó là lúc tình
yêu chân chính duy nhất mà bạn dành cho ai đó tan vỡ. Sớm muộn
rồi bạn sẽ hiểu ra được nó. Cuộc đời này thật đau khổ.
Hãy nhìn xung quanh. Mọi người bạn nhìn thấy cũng giống bạn –
đang vật lộn tranh đấu, đang kiếm tìm một vài hạnh phúc nhỏ nhoi,
giả tạm để bám víu. Nhưng nó là một hành động vô ích, cho đến lúc
chúng ta gần đất xa trời, chỉ còn hơi thở cuối cùng, mọi thứ chúng ta
yêu mến, gắn bó sẽ rời xa khỏi tầm tay chúng ta – bạn bè, gia đình,
nhà cửa, mọi thứ và thậm chí là ngay cả cái xác này của chúng ta.
Tất cả chúng ta đều biết điều này. Chúng ta cố gắng bằng hết tâm
sức của mình để cố tình không nhận ra nó. Tập trung vào những điều
tốt là đúng chứ? Nhưng khi chúng ta bắt đầu già hơn, thân xác bắt
đầu hư hao, bạn bè người thân bắt đầu rời xa chúng ta, cái kết cục
không thể tránh được ngày càng trở nên rõ ràng. Chúng ta sẽ mất tất
cả.
Một vài người nói với bạn đừng lo lắng về tất cả điều này – hãy
hưởng thụ cuộc sống khi nó vẫn còn đi. Nhưng vấn đề là ở chỗ ngay
cả cái hạnh phúc tạm thời cũng né tránh chúng ta nếu ngay lúc này
chúng ta không ý thức về điều đó. Chúng ta liên tục gắng sức để dành
lấy điều gì đó, ai đó hay một địa vị nào đó mà chúng ta nghĩ rằng sẽ
làm chúng ta hạnh phúc. Và rồi, nếu chúng ta thực sự có nó, chúng ta
vẫn không thấy thỏa mãn. Tại sao vậy? Điều gì khiến chúng ta không
thể có được hạnh phúc?
Chắc chắn, chúng ta có những khoảnh khắc – những thời khắc
vui thích trong cuộc đời đã thúc đẩy chúng ta, giữ chúng ta tiếp tục
tranh đấu. Một khuôn mặt đáng yêu của một em bé đang ngủ, vẻ rạng
rỡ của một ánh hoàng hôn, một bí mật được chia sẻ chỉ giữa hai
người. Nhưng chúng chỉ là một số ít và xa vời. Và chúng luôn luôn kết
thúc. Tại sao chúng ta không thể giữ chúng lại?
Chúng ta không đặt câu hỏi về điều này bởi vì nó là điều chúng ta
đã từng được biết. “Đó chỉ là cách cuộc sống hiện hữu.” Nhưng là cái
gì nếu điều đó không nhất thiết là sự thật? Hoặc nếu có một con
đường khiến cho những thời khắc hân hoan vui sướng kéo dài mãi
mãi? Hoặc nếu có một con đường không mất mát mọi thứ bạn yêu
thích vào lúc cuối cùng? Hoặc nếu “cách cuộc sống hiện hữu” chỉ là
một nhầm lẫn lớn – nếu cảnh giới thường ngày chúng ta đang sống
đây chỉ là một trong những sai lầm chết người, một sai lầm chúng ta
có thể học cách để khắc phục?
Hoặc nếu bạn có sức mạnh để tạo ra thực tại? Nếu có một cánh
cửa bạn có thể đi qua, nơi dẫn đến niềm phúc lạc vĩnh cửu cho cả bạn
và người bạn yêu thương?
Với người Tây Tạng, đây là mục tiêu thực sự của thiền. Và thậm
chí nếu chỉ có một khả năng rất nhỏ trong tâm trí bạn khiến những
điều này có thể thật sự xảy ra, nó cũng đáng để thử đấy chứ. Rốt cuộc,
bạn có thể mất gì?
Con đường đưa đến sự kết thúc khổ đau
Thật khó để nghĩ về mặt trái của cuộc sống. Tâm trí chúng ta
thường né tránh nghĩ về nó. Nhưng trước khi thay đổi cuộc sống của
mình hay thay đổi thế giới, chúng ta cần nhận thức rằng có cái gì đó
không ổn – có điều gì đó cần được điều chỉnh. Và nếu chúng ta cứ giữ
quan niệm cho rằng mọi thứ đều ổn, thì chúng ta sẽ không bao giờ
muốn đi qua tiến trình nghiêm ngặt để xây dựng lại thế giới này hay
chính bản thân chúng ta. Không ai có thể sống hòa hợp với thế giới
mà lại không tự hỏi rằng thế giới này vận hành như thế nào. Đặt câu
hỏi tất nhiên là không mấy dễ chịu. Nó thách thức mọi thứ chúng ta
đang nắm giữ và đang được coi là thật.
Chúng ta cần quay lại trạng thái hồn nhiên như trẻ thơ, nhìn thế
giới như thể lần đầu tiên thấy mọi thứ mới mẻ, và một lần nữa đặt ra
những câu hỏi mà mọi đứa trẻ thường băn khoăn và người lớn thì đã
thôi không còn nghĩ đến nữa. Những câu hỏi như: “Tại sao lại có nỗi
đau?”
Thật đơn giản, mà cũng không kém phần sâu xa.
Chúng ta đã dùng toàn bộ đời sống trưởng thành để xây dựng
nghệ thuật chặn đứng nỗi đau, làm như nó không hề tồn tại. Nhưng
để có thể đi trên con đường – dẫn đến nơi kết thúc của nỗi khổ đau –
chúng ta cần bắt đầu nhìn nhận lại nỗi khổ đau của cuộc sống này
trên bề mặt.
Tôi vẫn nhớ rất rõ ràng lần đầu tiên tôi thật sự hiểu nỗi thống khổ
của cuộc đời này.
Tôi đến New York học đại học năm tôi 17 tuổi và ở đó trong vòng
10 năm. Tôi cùng sống trong một căn hộ ở East Village với một người
phụ nữ tên là Lisa cùng hai con mèo của cô. Điều này liên quan những
con mèo của Lisa. Nếu bạn đã từng sống với một loài vật nào đó ở
trong nhà, bạn biết chúng nhanh chóng trở nên thân thiện với bạn
như thế nào. Hàng ngày khi tôi trở về nhà lũ mèo đứng đón tôi ở
cổng. Và tôi vuốt ve chúng, cho chúng chút thức ăn và chăm sóc
chúng, cố gắng làm chúng vui. Và ngược lại chúng nũng nịu cọ xát
người chúng vào tôi, kêu grừ grừ thích thú và thể hiện cho tôi biết
chúng yêu tôi nhiều thế nào. Thật tuyệt.
Một ngày khi trở về nhà từ nơi làm việc, và lũ mèo lại ở đó trước
cổng như thường lệ, nhưng khi tôi bước vào nhà vào nói xin chào thì
chú mèo tên Max đứng đơ ra, cứ như nó được làm bằng đá vậy. Chú
mèo nấc một tiếng ho khan lớn và rồi ngã xuống một bên. Tôi vội vã
chạy đến và nhận ra chú mèo đã không còn thở nữa. Sự hoảng hốt
xâm lấn lấy tôi. Tôi làm gì đây?
Tôi bế chú mèo trên tay mình và gọi 911. Họ cho tôi địa chỉ bệnh
viện thú y gần nhất. Nó cách đấy 50 dãy nhà. Tôi chạy ra khỏi cửa với
Max trên tay mình, lòng thổn thức.
Vài người lạ tốt bụng gọi cho tôi một chiếc taxi. Người tài xế cố
hết sức mình để đưa tôi đến đó nhanh nhất có thể, thỉnh thoảng anh
nói vài lời trấn an tôi, nhưng vượt qua 50 lô nhà trong giờ tan tầm ở
Manhattan trong khi Max bé nhỏ vẫn không thấy thở. Tôi cảm thấy
thật vô vọng.
Tôi xông vào những cánh cửa bệnh viện, vào một phòng đợi đầy
ắp người với những con vật trong lòng họ, trông chúng đều khỏe
mạnh, họ nhìn chằm chằm vào tôi, và rồi có ai đó trong bộ áo choàng
trắng tiến đến và đỡ lấy Max từ tay tôi, sau đó tôi được đưa đến một
căn phòng yên lặng để khóc một mình. Khoảng 15 phút sau, vị bác sĩ
đi vào – không thấy Max. “Tôi xin lỗi,” ông nói. “Chúng tôi không thể
làm gì cả.”
Tôi bàng hoàng trở về nhà và cảm thấy lặng người đi cứ như
mình không còn tồn tại trên đời này nữa. Nhưng sự thật thì thực sự
không phải cái chết của Max đã làm tôi đau khổ. Đó là một biến cố bất
ngờ đã xảy ra khiến tôi nhận ra rằng những điều đó hoàn toàn nằm
ngoài tầm kiểm soát của tôi.
Đây là một sinh linh đã yêu tôi và phụ thuộc vào tôi – một sinh
linh tôi đã hứa chăm sóc cho nó – nhưng khi thời khắc quyết định
thực sự đến và Max thật sự cần đến tôi, tôi đã không có một sức mạnh
nào để giúp cho nó. Hoàn toàn bất lực.
Người Tây Tạng mô tả cuộc sống này như được lấp đầy bởi ba
loại khổ đau. Loại đầu tiên dễ nhận thấy nhất là loại như chúng ta vẫn
nghĩ một cách thông thường như là đau đầu cho đến tan vỡ trái tim…
Nó có thể là ở dạng thể chất hoặc tinh thần.
Nỗi đau thứ hai thì thú vị hơn, chúng là những gì chúng ta
thường gọi là sự thỏa mãn. Một bữa ăn ngon, một công việc tốt, một
người bạn trai/bạn gái tuyệt vời – tất cả những thứ này rồi cũng sẽ
mang lại nỗi đau cho chúng ta. Tại sao vậy? Bởi vì tất cả chúng cuối
cùng sẽ kết thúc. Ở một khía cạnh sâu xa nào đó chúng ta biết điều
này. Bởi vậy thậm chí khi chúng ta dường như vui thích với những
điều “hài lòng” cuộc sống mang lại, thì ở đâu đó có một nhận thức
khủng khiếp rằng chúng ta không bao giờ giữ được những thứ chúng
ta tận hưởng, cho dù có cố gắng đến thế nào. Hoặc là bữa tối sẽ không
còn gì, hoặc là nó dừng lại ngay lúc chúng ta nếm thử. Đó là cách xảy
ra với mỗi điều vui thích đơn lẻ của cuộc sống. Chúng ta không bao
giờ thỏa mãn. Và điều đó thật đau đớn.
Nhưng loại nỗi đau thứ ba mới là tồi tệ nhất. Nó được gọi là nỗi
đau toàn cục đỉnh điểm, và đó là thứ mà tôi đã thoáng trải nghiệm sau
khi Max chết: sự việc đơn giản là chúng ta hoàn toàn không có quyền
kiểm soát với những gì xảy đến cho chúng ta.
Người Tây Tạng có một câu nói:
Vào lúc cuối cùng
Cuộc đời đau khổ này
Luôn luôn hiển lộ bản tính tự nhiên của nó
Nhưng chính nó chỉ đến sau
Quãng thời gian dài may mắn trước đó
Chúng ta có thể sống một chốc lát trong sự phủ nhận, vờ như mọi
thứ là ổn, nhưng không sớm thì muộn bạn sẽ bị buộc phải đối diện
với cuộc đời. Không ai có thể xoay chuyển được điều này. Chúng ta
hoàn toàn vô vọng. Không sớm thì muộn người bác sĩ sẽ đến và nói
với bạn, “Tôi xin lỗi. Chúng tôi không thể làm được gì.” Và như thế
bạn đi đâu để tìm kiếm sự trợ giúp. Không ai có thể xoay chuyển được
điều này. Tất cả chúng ta biết điều sâu sắc này ở bên trong, và nó
khiến chúng ta kinh hãi.
Có lẽ cách tốt nhất để mô tả loại nỗi đau thứ ba này một cách đơn
giản là “điều sâu thẳm nhất của bạn, những nỗi sợ hãi tăm tối nhất.”
Thực ra cuộc sống không nhất thiết phải diễn ra theo cách này. Có
một nơi bạn có thể chạm tới, một nơi vượt thoát khỏi bất cứ ba loại
nỗi đau nào trong này, một nơi của bình an, một nơi của niềm phúc
lạc.
Hãy thiền định, và cùng hình dung ra nó.
Những nhân tố và thành phần cơ bản
Hãy bắt đầu thiền định. Nhưng chúng ta vẫn chưa nói về việc
thiền như thế nào, phải không các bạn? Người Tây Tạng có vài quan
điểm mạnh mẽ về cách dạy thiền như thế nào. Theo logic tự nhiên thì
có thể chúng ta phải bắt đầu với kĩ thuật, “làm thế nào” để thực hiện
điều đó, rồi chúng ta làm mẫu nó một lần, sau đó mới đến việc bắt
đầu thiền. Nhưng ở Tây Tạng, họ làm tất cả những điều trên đồng
thời cùng một lúc. Và có một lí do đặc biệt cho điều này. Người Tây
Tạng yêu cầu bạn đừng bao giờ hành thiền trừ khi bạn đang thiền
trên một đối tượng đúng đắn, có đạo đức – điều đó sẽ giúp biến đổi
tâm trí bạn thành những điều tốt đẹp hơn. Bởi vậy ngay ở giai đoạn
một, chúng ta sẽ có một đối tượng thiền định dễ thương và vững chãi.
Ngày xưa, và có lẽ cả bây giờ cũng vậy, có những người quá chú
trọng đến tiến trình thiền mà làm mất đi toàn bộ mục đích của việc
này. Họ trải qua toàn bộ cuộc sống để chạm đến những cấp độ ngày
càng sâu hơn của việc quán sát hơi thở, và cuối cùng cũng già và chết
đi như bao người khác.
Thiền định chỉ là một công cụ. Cũng như các công cụ khác, nó có
thể được sử dụng vào mục đích tốt hay xấu. Chúng ta đừng bao giờ để
bị mắc kẹt vào cái bẫy của tâm trí rằng tự thân thiền định là thành
quả. Nó chỉ là con đường đưa chúng ta đến đó, nếu chúng ta biết đi
đúng cách.
Vì thế chúng ta sẽ bắt đầu như người Tây Tạng – học kĩ thuật và
chủ đề cùng một lúc. Đan xen, kết hợp trong những bài thiền thực tế
dọc theo cuốn sách sẽ là những phần nhỏ về kĩ thuật thiền, được gọi
là “Những lời khuyên” (hay mẹo) sẽ giúp bạn nhiều hơn trong khía
cạnh thực hành thiền định. Đây là lời khuyên đầu tiên.
KINH NGHIỆM THIỀN TẬP
CHỖ NGỒI THIỀN CỦA BẠN
Có thể bạn sẽ nghĩ rằng đâu cần phải nói gì nhiều về việc ngồi
xuống một tấm đệm, song tìm chỗ ngồi phù hợp rất cần thiết cho việc
thực hành thiền định. Bởi vì thân và tâm được kết nối một cách trọn
vẹn nên cách thức chọn địa điểm và tư thế ngồi sẽ tác động đến tâm
trí của bạn.
Chúng ta nên tìm một chỗ ngồi thật thoải mái đến mức chúng ta
có thể để toàn bộ cơ thể của mình ở lại đó và đi vào thế giới của
những suy tưởng thanh khiết. Đồng thời tư thế này phải giúp chúng
ta thiền được tập trung. Nếu chỗ ngồi quá thoải mái đến nỗi bạn ngồi
rũ xuống, ngủ gà ngủ gật thì nó không tốt đâu. Và cuối cùng, chúng ta
cần một tư thế thật vững vàng, ổn định – khi tâm trí chúng ta đi sâu
vào đối tượng thiền, hẳn chúng ta sẽ không muốn mất đi một nửa sự
tập trung vào cơ thể của mình nữa.
Người Tây Tạng đã phát triển nhiều tư thế thiền có ích để phù
hợp với ba yêu cầu này. Tại sao lại là nhiều? Bởi vì mỗi người chúng
ta đều khác nhau. Bạn cần thử và quyết định tư thế nào là tốt nhất
cho mình.
Chúng ta sẽ bắt đầu từ phần dưới và đi lên – Chúng ta ngồi lên cái
gì? Thường thường, đầu tiên bạn sẽ đặt một tấm đệm hình vuông có
chất liệu mềm mại với kích thước khoảng 0,9m x 0,9m. Nó có thể là
một tấm thảm hay một cái chăn được gập lại, và nó phải không được
dày quá, chỉ đủ để đầu gối bạn không bị chạm xuống sàn nhà. Tiếp đó
bạn sẽ đặt tọa cụ (bồ đoàn) lên trên bề mặt tấm thảm để khi ngồi
hông được nâng lên cao hơn đầu gối. Cao bao nhiêu thì tùy thuộc vào
bạn, nhưng cái quan trọng là hãy thử các kích cỡ khác nhau và hình
dạng của tấm đệm để chọn ra được cái phù hợp nhất với cơ thể mình.
Một điều nữa – hãy chắc rằng cả phía trên và phía dưới tấm đệm
được làm bằng vải sợi tự nhiên, không phải vải nhân tạo. Ngày nay
các loại đệm thiền rất dễ kiếm. Cá nhân mình, tôi thích những tấm
đệm hình bán nguyệt được đổ đầy vỏ lúa mạch – Hạt lúa mạch có thể
chuyển động được bên trong nên rất dễ dàng để cân chỉnh tấm đệm
của bạn tới một độ cao hoàn hảo.
Tiếp theo là – vị trí chân như thế nào? Tư thế phổ biến nhất ở Tây
Tạng là tư thế bán già (nửa bông hoa sen), bạn ngồi bắt chéo một
chân lên bắp vế chân bên kia. Thường thì chân trái sẽ để ở bên trên,
và chân phải được gập xuống dưới, nhưng tôi được biết các Lạt Ma
họ làm ngược lại, vì vậy bạn hãy thử cả hai cách và xem cách nào
thoải mái cho bạn.
Bạn có thể chọn lấy tư thế đơn giản là đan chéo hai chân vào nhau
bình thường cũng được, nhưng tư thế bán già, đặt một chân lên bắp
vế chân kia sẽ giúp bạn vững vàng, ổn định hơn khi ngồi và nó cũng
giúp bạn thẳng được sống lưng. Khi sống lưng được giữ thẳng, nó
quyết định đến việc tập trung được tốt.
Có một tư thế nữa là tư thế kiết già (tư thế hoa sen trọn vẹn) mà
bạn có thể lựa chọn. Tư thế này là cả hai chân của bạn đều được vắt
lên trên bắp vế của chân kia. Tư thế này rất mạnh mẽ: nó chốt toàn bộ
cơ thể vào vị thế thiền một cách chặt chẽ và nó tác động lên các
đường kinh mạch tinh tế trên cơ thể để cho bạn sự tập trung cao độ.
Nhưng nếu các cơ khớp chân bạn không được mềm dẻo thì nó có thể
làm đau đầu gối bạn. Nếu bạn muốn thử tư thế này thì tôi đề nghị bạn
hãy làm từ từ – hãy ngồi trong tư thế hoa sen này một phút mỗi ngày,
khi bạn đã quen và thấy thoải mái với một phút rồi thì hãy thử nó
trong năm phút, và cứ thế dần dần.
Hai đầu gối có làm đau bạn không? Như tôi đã nói ở phía trên,
điều quan trọng là sự thoải mái. Thế nên nếu bạn là một trong những
người không thể ngồi trong bất cứ tư thế vắt chéo chân nào thì hãy
ngồi trên một chiếc ghế bình thường, điều đó sẽ tốt hơn với bạn.
Trong trường hợp đó, bạn có thể ngồi với cả hai chân đặt trên sàn
nhà một cách chắc chắn, và nếu có thể, bạn hãy thử ngồi ở mép rìa
ngoài của ghế, giữ cho sống lưng mình thật thẳng mà không cần dựa
lưng vào ghế.
Tiếp theo là phần thân của bạn – hãy giữ cho lưng thẳng và thư
giãn xương sống của bạn. Có một điểm cân đối chúng ta cần tìm ra
giữa việc ngả lưng quá xa về phía sau và ngả lưng quá xa về phía
trước. Khi không tìm được điểm cân đối này thì đầu tiên nó sẽ khiến
tâm trí bạn vẩn vơ, khó tập trung, và nó có thể khiến bạn buồn ngủ.
Bởi vậy thật quan trọng để xương sống được nghỉ ngơi. Đầu tiên, hai
khung xương được gọi là “xương chậu” ở mặt dưới của mông nên
được đặt chắc chắn dưới sàn nhà (hay mặt ghế), cho phép phần thân
của bạn được thẳng.
Sau đó thì hãy chắc chắn tất cả các đốt sống lưng của bạn được
thẳng – những văn tự cổ xưa nói hãy thẳng như một chồng tiền xu.
Để làm vậy, bạn có thể tưởng tượng một sợi dây ở đỉnh chóp đ...
Chaktsel
Đỉnh lễ
Tôi biết bạn, tôi đã có một linh ảnh về bạn ở sâu thẳm trong thiền
định, và tôi đã chạm tới bạn, tôi đã gieo một hạt giống, và giờ đây tôi
có một nhân duyên tốt lành để có thể nói với bạn, thông qua cuốn
sách này. Mong ước sâu thẳm nhất của tôi là được chia sẻ với bạn sự
thiện lành lạ thường được truyền xuống qua tôi bởi tất cả các Đức
Thầy thiêng liêng mà tôi đã được thọ nhận.
Tôi thật sự rất may mắn. Tôi đã có điều tốt nhất ở các Đức Thầy
hướng dẫn tôi từ ngày đầu tiên. Hãy để tôi được dành một khoảnh
khắc ở đây, để được trào dâng lên lòng biết ơn sâu sa tới họ, và rồi
trao cho bạn một hình ảnh nhỏ của người đang nói thông qua tôi.
Đầu tiên và trước hết là Vị Thầy và Người Hướng Đạo của trái
tim tôi, Geshe Michael Roach (Geshe: bằng cấp cao học của Phật học
Tây Tạng), Bậc Linh Ngộ Tính Không, người nắm giữ chân lý, người
bạn đồng hành trọn đời, cuộc sống tuyệt đỉnh của tôi, không có
Người mọi thứ đều trở thành không thể, với bất kì sự kết tinh tinh
túy nào mà tôi có, chính là Người đã lan tỏa và trút nguồn ân sủng
vào tôi.
Đức Thầy tôn kính, con xin được tựa đầu, vầng trán này của con
tới bông hoa sen ngự dưới đôi chân thần thánh của Người.
Và rồi, trong lời chỉ dẫn xuất hiện…
Mẹ yêu dấu của con, tình yêu của con, người đã dạy con làm thế
nào để nghe tiếng bước chân của một ai đó, và người hết lần này qua
lần khác đã chỉ cho con bài thực hành cao vợi về việc trao đi cuộc
sống của mình vì lợi ích của kẻ khác.
Cha của con, trái tim thật lớn lao, người đang chỉ cho con niềm
kiêu hãnh tột bậc trong việc phụng sự mọi người không ngưng nghỉ
với niềm hoan hỷ phúc lạc.
Greg Linington, vị hoàng tử quý phái, người đã mở ra cánh cửa
đến với con đường tối thượng.
Mark Neack, người đã dẫn tôi đến một thế giới khác biệt, người
đã dạy tôi làm thế nào để sáng tạo.
Shri Sharon Gannon, Bậc Vô Úy (không ngăn ngại, không sở
hữu), và David Life Ji, linh hồn nhẹ nhàng quyền quý, người đã hút
tôi tới Ấn Độ - Mảnh Đất của Các Bậc Tĩnh lặng.
Tu sĩ chính thức được biết đến là Guy Rom, một vị Phật trẻ trung,
người đã tỏa ra nguồn động viên khi tôi thực hành ngồi những bài
thiền định đầu tiên của mình.
Karen Valham tôn kính, Bậc nhẫn nhục, Vị minh sư ẩn dật, Đức
Thầy Đạo Pháp chính thức đầu tiên của tôi trong đời này.
Khen Rinpoche Geshe Lobsang Tharchin, Đấng Chinh Phục Tự
Ngã, người tiếp nối không gián đoạn dòng truyền thừa vĩ đại này tới
chúng tôi, những người phương Tây điên rồ.
Robina Courtin kính yêu, mạnh mẽ và tốt tính, người đã đến và
nắm lấy tay tôi.
Sermey Geshe Thubten Rinchen, bậc có tâm trí mênh mông như
một bầu trời tự ngã, người đã đẩy bật những luận điểm của tôi vượt
lên khả năng thông thường của nó, và chính Người đã chỉ cho tôi
những con đường.
Gyume Khensur Rinpoche, vị sứ giả hòa bình, người đã ban cho
tôi bí mật.
Lama Zopa Rinpoche, người bạn tinh thần mến yêu nhất, người
đã mang đến những lời khuyên tối thượng và là người luôn luôn ở đó
mỗi khi tôi cần.
Geshe Lobsang Thardo, người mẹ, vị minh sư của pháp môn Yoga
Guru, bậc đạo sư vĩ đại, người đã gõ đầu tôi một cách tuyệt vời khi
cần thiết.
Bậc Thông Thái và trọn lành Gene Smith, vị Yogi bí mật, người đi
vào sâu thẳm bên trong cảnh giới của tâm trí.
Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đôi Mắt Yêu Thương, người đã trao cho
chúng ta món quà vô giá của việc mở ra những lời dạy này tới thế
giới, và cũng chính Người đã mang đến cho tôi câu trả lời cho những
lời nguyện cầu của mình.
Pandiji Kanheya Sharma, Vị Chúa Tể của Vũ Điệu, ô cửa đi vào
Kashi của tôi, người đã tặng cho tôi nước và lửa.
Swami Swaroopananda Ji, nhà hiền triết cổ xưa, người dạy cho
tôi về nguồn gốc của phúc lạc.
Tất cả các bậc thầy truyền thừa Ấn Độ, những vị đã chỉ cho tôi
một cái nhìn khác của cùng một lối mòn, có thể kể một vài tên tuổi
như: Dharma Mittra Ji, Shri Pattabhi Jois, và Quý bà Ruth Lauer…
Trace Murphy, biên tập viên xuất sắc đã đặt niềm tin vào tôi, và
Jon Sheer, người đã xuất hiện đúng lúc để giúp đỡ tôi.
Cuối cùng là những sinh viên thiên thần ngọt ngào ở Trường Đại
Học Núi Kim Cương của tôi, mục đích của đời tôi, những người đã
không ngừng chỉ cho tôi định hướng đúng đắn, và không ngừng đẩy
tôi lên cao hơn nữa. Đặc biệt là Rob Ruisinger, bậc thầy về thiết kế
của tôi; và Alistair Holmes, James Connor cùng Ian Thorson, những
cộng sự đã giúp tôi viết nên cuốn sách này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các Đức Thầy Thiêng Liêng
trong hiện tại và quá khứ, tới những hạt giống mà chính tôi cũng
không thể tưởng tượng ra được mình đã gieo trồng.
Nhưng có lẽ đó chưa phải là tất cả để thúc giục tôi viết nên cuốn
sách này, tôi phải trở thành vị Thầy của chính mình – điều thúc đẩy
tôi lên một bước xa hơn trên con đường vươn tới mục đích tối hậu.
Tôi vô cùng biết ơn và xin đỉnh lễ trước bạn vì điều đó…
Đôi điều về tác giả
Cuộc đời thật lạ. Cho tới năm 21 tuổi, tôi chưa bao giờ được nghe
về thiền và lúc đó Tây Tạng đối với tôi chỉ là một chấm đen bé nhỏ
trên bản đồ mà thôi. Và tôi đã đi tới phương Đông, rồi mọi thứ đã
thay đổi.
Hãy hình dung – bạn mở một cuốn sách thiền của Tây Tạng ra, và
những gì được viết ở bên trong lại chính là sự mô tả một cách chính
xác về những cảnh tượng bạn đã thấy như một đứa trẻ trong các giấc
ngủ.
Hãy hình dung – bạn gặp ai đó lần đầu tiên, và trái tim của bạn
bỗng ngập tràn niềm vui khi được gặp lại họ đến mức bạn òa khóc vì
niềm vui đó.
Hãy hình dung – bạn được dẫn qua những hành lang của một tu
viện Tây Tạng, bên trong một căn phòng nhỏ và tối, nơi chỉ có một vị
tu sĩ già, người bạn chưa từng gặp trước đó vui cười với bạn như thể
nhận ra bạn, cúi đầu trước bạn và dâng tặng những món quà thanh
khiết, cao quý cho bạn.
Hãy hình dung – bạn chưa bao giờ từng ngồi thiền, vì vậy bạn
quyết định thử và lập tức bạn được đưa đến một nơi nào đó… cao
hơn.
Hãy hình dung – bạn đang nhìn chăm chú vào đôi mắt vị Thầy
của trái tim mình, khi khuôn mặt của họ bắt đầu biến đổi, dần dần
chuyển thành khuôn mặt của Một Người bạn đã biết từ rất lâu rất lâu
trước đây.
Thực sự trước đây tôi chưa từng nghĩ về chuyện tái sinh, nhưng
khi sự thật hiển nhiên về quá khứ sống lại một cách nhanh chóng
trước tôi rõ ràng khiến tôi quan tâm đến điều này hơn. Tôi thật sự là
ai? Có phải là một cô gái từ California, hay tôi cũng là một yogi. Một
vị La Ma vĩ đại của Tây Tạng?
Đây không phải là lần đầu tiên – chúng ta đã từng ở đây và nó
nhiều hơn tất cả những gì chúng ta cảm thấy dường như là vậy.
Chúng ta đã cùng đi trên con đường này trong nhiều kiếp. Những
chuyện xảy ra chớp nhoáng với tôi sau khi tôi gặp được những lời dạy
này, như người ta hay nói tất cả diễn ra chớp nhoáng như một cú
cướp cò súng, như một giọt nước nhỏ tí xíu, và rồi tất cả hạt giống
trong tâm trí bạn mở ra như một bông hoa và bạn được đưa tới nơi
mà bạn đã bỏ dở trong kiếp sống trước. Đây chính xác là những gì xảy
đến với tôi, và tôi hi vọng rằng cuốn sách này có thể làm một cú cướp
cò súng như vậy với bạn.
Chỉ vài năm ngắn ngủi sau đó, tôi đã tìm cho mình một trong
những thực hành khắt khe nhất mà bạn có thể làm – cái mà họ gọi là
Nơi Nhập Thất Vĩ Đại, bạn cho phép mình đi vào một nơi biệt lập để
thiền định trong ba năm, ba tháng và ba ngày. Không nói chuyện,
không gặp gỡ một ai khác, không có bất cứ loại liên lạc giao tiếp nào
với bên ngoài – chỉ một mình bạn thám hiểm vào trong những đại
dương sâu thẳm nhất của tâm trí mình.
(Nếu điều này nghe thật lãng mạn, như thể bạn sẽ muốn thử nó
thì tôi khuyên bạn hãy thử bắt đầu với một tuần lễ. Hãy ở một mình,
chỉ mình bạn với tâm trí của riêng mình được thách thức mà thôi.)
Chúng tôi có sáu người và chúng tôi tìm đến nơi xa xôi hẻo lánh
trên sa mạc Arizona – một nơi chưa từng có người sinh sống, một nơi
hoang sơ đến mức mà chỉ có loài chó sói Bắc Mỹ và sư tử núi hiện
diện ở đây.
Chúng tôi đặt mua những chiếc lều tròn nhỏ từ Mông Cổ được gọi
là “yurts” – nó có cọc chống bằng gỗ với rơm, được che phủ kín bằng
nỉ và vải bạt, có mái vòm kính ở trên nóc lều để đón ánh sáng.
Chúng tôi tìm ba người giúp việc sẵn sàng đi cùng và ở lại với
đoàn, họ giúp chúng tôi mang thực phẩm và nước hai lần trong ngày,
và sau đó chúng tôi dựng những hàng rào nhỏ quanh những chiếc lều
yurts với một chiếc hộp ở một bên, như vậy những người giúp việc có
thể để đồ ăn và nước uống lại mà không cần phải nhìn thấy chúng tôi
Chúng tôi ở đó từ ngày mùng 3 tháng 3 năm 2000 cho đến mùng
6 tháng 6 năm 2003, trong trạng thái hoàn toàn cắt đứt với toàn bộ
thế giới bên ngoài.
Làm thế nào để giải thích cho bạn tất cả
Dòng truyền thừa
Thiền định ở Tây Tạng có một lịch sử lâu dài. Trên thế giới thì
người Tây Tạng là những người đã sẵn có khả năng chinh phục được
cảnh giới vô tận của tâm. Trong lĩnh vực đặc biệt này, họ đã đi tiên
phong rất lâu trước các nhà khoa học tây phương vĩ đại nhất. Những
thiền giả vĩ đại của Tây Tạng được biết tới bởi những kì tích thần giao
cách cảm phi thường, và người ta nói rằng, thông qua sức mạnh của
tâm trí, họ có thể điều khiển, chi phối được thời tiết, chữa lành bệnh
tật và thậm chí là bay trên trời. Trong khi có thể bạn tin hay không tin
vào tất cả những điều này thì chúng ta vẫn phải thừa nhận tất cả rằng
có cái gì đó đặc biệt, lạ lùng về người Tây Tạng. Chúng ta khỏi cần tìm
đâu xa xôi, chính Đức Đạt Lai Lạt ma hiện tại – người đã hiến dâng cả
cuộc đời mình cho nền hòa bình, và chính ông đã đi khắp thế giới để
giảng với mọi người làm cách nào để yêu thương người khác – từ con
người ông chúng ta có thể suy luận được rằng có điều gì đó mà chúng
ta nên học hỏi từ người Tây Tạng.
Tất cả bắt đầu vào khoảng năm 750 sau Công Nguyên, khi một vài
vị Lạt Ma vĩ đại người Ấn đã bất chấp chuyến đi dài ngày vất vả băng
qua dãy Himalaya để đến và dạy nghệ thuật thiền định cao cấp cho
người Tây Tạng. Vào lúc đó, Tây Tạng chỉ thuần túy là một vùng thôn
quê hẻo lánh, cư dân đa phần là những người nông dân và người du
mục chăn nuôi yak (một loại trâu của Tây Tạng). Nhưng chính sự
thôn dã, giản dị này đã mang những lời truyền giảng của các Lạt Ma
Ấn Độ đi vào tâm khảm và tạo nên nét riêng biệt cho người dân Tây
Tạng. Để rồi Tây Tạng trưởng thành trong sự giàu có và sở hữu một
nền văn hóa đặc sắc như chúng ta thấy ngày nay.
Đặc biệt có một đức Lạt Ma vĩ đại từ Ấn Độ, Ngài được biết đến là
người đã mang sự truyền giảng về thiền định tới Tây Tạng. Tên của
ngài là Thầy Kamalashila. Trong khi ở Tây Tạng truyền giảng, Ngài đã
viết một cuốn sách chỉ dẫn ngắn gọn về việc thiền như thế nào, và
cuốn sách này đã trở thành luận thuyết cổ điển cho chỉ dẫn thiền định
– một tác phẩm rất nền tảng của tất cả các loại thực hành thiền định
Tây Tạng cho đến ngày hôm nay.
Chân lý trong những lời giảng dạy của ngài đã bật sáng ngọn lửa
bên trong người Tây Tạng, và từng người một trong họ đã đi vào
những hang động để thực hành. Vài nhân vật như Milarepa lừng lẫy,
người được biết đến với 100.000 bài tụng ca để lại do ông viết về sự
hành thiền của mình, hay đệ tử của ông, Gampopa, người khởi thủy
dòng thiền truyền thừa danh tiếng Đại Thủ Ấn (Mahamudra). Ở đó,
từng người bọn họ đi đến một sự hiểu biết sâu sắc dựa trên trải
nghiệm về những lời giảng dạy này, rồi sau đó họ lại truyền dạy cho
những người khác. Và như vậy dòng truyền thừa liền mạch không
gián đoạn từ thầy xuống trò, mỗi một thiền giả mới sau này lại để lại
lời dẫn giải sâu sa từ chính trải nghiệm riêng của mình.
Bởi thế mà ngày nay chúng ta có hàng ngàn bản văn Tây Tạng soi
sáng cho chúng ta những gì cần để thiền, thiền như thế nào, và tại sao
phải thiền. Chỉ có một vấn đề? Chúng đang ở Tây Tạng! Phần lớn
những bản văn này vẫn chưa được phiên dịch, và mặc cho vài học giả
phương tây đang cố gắng, nhưng sẽ phải mất 150 năm nữa để hoàn
thành công việc dịch thuật này.
Đó là nguồn gốc ra đời của cuốn sách này. Cuốn sách này là một
sự tổng hợp tất cả những lời dẫn giải từ những bậc thượng sư vĩ đại
Tây Tạng về thiền, bắt đầu từ Thầy Kamalashila và tiếp nối cho đến
những Lạt Ma hiện đại ngày nay, tới khi nó được truyền thừa xuống
cho tôi bởi các Đức Thầy Thiêng Liêng. Và cứ thế dòng truyền thừa
được tiếp tục liền mạch – từ Ấn Độ, tới Tây Tạng và trên những vùng
đất phương Tây, một cách không gián đoạn, thẳng đến bạn.
Tại sao lại Thiền?
Có nhiều lí do giải thích cho việc tại sao người ta hành thiền. Có
người nói thiền mang lại cho họ một tâm trí bình an hơn. Đúng là
như vậy. Những người khác sẽ nói với bạn thiền làm tâm trí sắc bén
và sáng tạo hơn, vì thế bạn có thể làm được nhiều việc hơn. Điều này
cũng đúng. Và một số ít người lại nói họ chỉ cảm nhận được tình
thương yêu từ thiền.
Một khi bạn lặn xuống dưới sâu mặt nước, bạn sẽ khám phá một
nơi đẹp đẽ trong suốt như pha lê – tựa như một viên kim cương ẩn
tàng bên dưới lớp đất khoáng chất. Đó chính là tâm trí của bạn, khi
đã gột rửa được mọi lớp vỏ bên ngoài. Và lúc này bạn thậm chí không
thể hình dung được những điều kinh ngạc nào bạn có thể làm với nó.
Những nhà khoa học hiện đại nói với chúng ta rằng con người chỉ
đang sử dụng được một phần nhỏ bé khả năng của não bộ. Vậy điều
gì sẽ giúp chúng ta đánh thức phần năng lực lớn lao còn lại của não
bộ? Điều đó hoàn toàn có thể được, nếu bạn học cách thiền.
Muốn gia tăng chỉ số IQ(1) của bạn? Hãy thiền. Muốn trở nên sáng
tạo hơn? Hãy thiền. Muốn trở nên bình an hơn? Hãy thiền.
Tất cả những điều này sẽ đến nếu bạn hành thiền, nhưng chúng
thực sự mới chỉ là những kết quả phái sinh phát xuất trong quá trình
thiền mà thôi: giống như là những điều đến tự động khi bạn nỗ lực
cho một thành quả cao hơn. Có những nguyên nhân sâu sa hơn trong
việc học thiền.
Người Tây Tạng nói chúng ta chỉ mới bắt đầu quá trình thức tỉnh
– vẫn có một con đường đi vào tiến trình tiến hóa của nhân loại. Và
nó không phải là việc tạo ra những con tàu vũ trụ hay những bộ máy
vi tính. Bước tiếp theo trong sự tiến hóa nhân loại diễn ra ở bên
trong.
Chúng ta được sinh ra với khả năng tiềm tàng không thể tưởng
tượng được này, nhưng hầu hết những tiềm lực đó lại đang ngủ sâu
bên trong chúng ta. Chúng ta giống như là những chú chim non vẫn
đang nằm trong vỏ trứng, vẫn chưa hoàn toàn ý thức được về bầu trời
rộng mở thênh thang phía trên mình vốn có thể là của chúng ta.
Chúng ta nghĩ lớp vỏ trứng này là tất cả những gì có trong cuộc sống,
và rồi chúng ta tự giam hãm thân thể, tâm trí mình trong giới hạn của
tầm nhìn và các hoạt động. Chúng ta cần học cách làm thế nào để làm
vỡ, khai mở lớp vỏ trứng kia ra và tung bay tự do trên bầu trời thênh
thang rộng mở.
Và nếu bạn nghĩ về điều này, có lẽ bạn sẽ ý thức được điều này là
sự thật. Có lẽ bạn có thể cảm nhận được khát khao tinh tế bất biến
này trong tâm trí mình ở một mức cao hơn. Chúng ta không được
mang tới đây chỉ để ăn, ngủ rồi sinh con đẻ cái và lại chết đi. Không,
cuộc sống của bạn có một ý nghĩa sâu xa hơn rất nhiều. Sự có mặt của
bạn trên cõi đời này cao thượng và vĩ đại vô cùng. Và có lẽ tôi có thể
chỉ cho bạn con đường.
I. Ngenjung: Cần Phải Giải Thoát
Đổ vỡ
Người Tây Tạng nói chúng ta sống trong một cảnh giới bị đổ vỡ,
và chỉ bằng cách học nghệ thuật thiền định chúng ta mới có thể biết
cách khắc phục nó.
Vậy điều gì chính xác của từ “đổ vỡ” mà họ nói đến?
Khi nào là lúc lần đầu tiên bạn nhận ra rằng cuộc sống không có
một hồi kết hạnh phúc? Có lẽ đó là ngày bạn được biết căn bệnh ung
thư của dì bạn sẽ không có gì tiến triển tích cực hay có lẽ đó là lúc tình
yêu chân chính duy nhất mà bạn dành cho ai đó tan vỡ. Sớm muộn
rồi bạn sẽ hiểu ra được nó. Cuộc đời này thật đau khổ.
Hãy nhìn xung quanh. Mọi người bạn nhìn thấy cũng giống bạn –
đang vật lộn tranh đấu, đang kiếm tìm một vài hạnh phúc nhỏ nhoi,
giả tạm để bám víu. Nhưng nó là một hành động vô ích, cho đến lúc
chúng ta gần đất xa trời, chỉ còn hơi thở cuối cùng, mọi thứ chúng ta
yêu mến, gắn bó sẽ rời xa khỏi tầm tay chúng ta – bạn bè, gia đình,
nhà cửa, mọi thứ và thậm chí là ngay cả cái xác này của chúng ta.
Tất cả chúng ta đều biết điều này. Chúng ta cố gắng bằng hết tâm
sức của mình để cố tình không nhận ra nó. Tập trung vào những điều
tốt là đúng chứ? Nhưng khi chúng ta bắt đầu già hơn, thân xác bắt
đầu hư hao, bạn bè người thân bắt đầu rời xa chúng ta, cái kết cục
không thể tránh được ngày càng trở nên rõ ràng. Chúng ta sẽ mất tất
cả.
Một vài người nói với bạn đừng lo lắng về tất cả điều này – hãy
hưởng thụ cuộc sống khi nó vẫn còn đi. Nhưng vấn đề là ở chỗ ngay
cả cái hạnh phúc tạm thời cũng né tránh chúng ta nếu ngay lúc này
chúng ta không ý thức về điều đó. Chúng ta liên tục gắng sức để dành
lấy điều gì đó, ai đó hay một địa vị nào đó mà chúng ta nghĩ rằng sẽ
làm chúng ta hạnh phúc. Và rồi, nếu chúng ta thực sự có nó, chúng ta
vẫn không thấy thỏa mãn. Tại sao vậy? Điều gì khiến chúng ta không
thể có được hạnh phúc?
Chắc chắn, chúng ta có những khoảnh khắc – những thời khắc
vui thích trong cuộc đời đã thúc đẩy chúng ta, giữ chúng ta tiếp tục
tranh đấu. Một khuôn mặt đáng yêu của một em bé đang ngủ, vẻ rạng
rỡ của một ánh hoàng hôn, một bí mật được chia sẻ chỉ giữa hai
người. Nhưng chúng chỉ là một số ít và xa vời. Và chúng luôn luôn kết
thúc. Tại sao chúng ta không thể giữ chúng lại?
Chúng ta không đặt câu hỏi về điều này bởi vì nó là điều chúng ta
đã từng được biết. “Đó chỉ là cách cuộc sống hiện hữu.” Nhưng là cái
gì nếu điều đó không nhất thiết là sự thật? Hoặc nếu có một con
đường khiến cho những thời khắc hân hoan vui sướng kéo dài mãi
mãi? Hoặc nếu có một con đường không mất mát mọi thứ bạn yêu
thích vào lúc cuối cùng? Hoặc nếu “cách cuộc sống hiện hữu” chỉ là
một nhầm lẫn lớn – nếu cảnh giới thường ngày chúng ta đang sống
đây chỉ là một trong những sai lầm chết người, một sai lầm chúng ta
có thể học cách để khắc phục?
Hoặc nếu bạn có sức mạnh để tạo ra thực tại? Nếu có một cánh
cửa bạn có thể đi qua, nơi dẫn đến niềm phúc lạc vĩnh cửu cho cả bạn
và người bạn yêu thương?
Với người Tây Tạng, đây là mục tiêu thực sự của thiền. Và thậm
chí nếu chỉ có một khả năng rất nhỏ trong tâm trí bạn khiến những
điều này có thể thật sự xảy ra, nó cũng đáng để thử đấy chứ. Rốt cuộc,
bạn có thể mất gì?
Con đường đưa đến sự kết thúc khổ đau
Thật khó để nghĩ về mặt trái của cuộc sống. Tâm trí chúng ta
thường né tránh nghĩ về nó. Nhưng trước khi thay đổi cuộc sống của
mình hay thay đổi thế giới, chúng ta cần nhận thức rằng có cái gì đó
không ổn – có điều gì đó cần được điều chỉnh. Và nếu chúng ta cứ giữ
quan niệm cho rằng mọi thứ đều ổn, thì chúng ta sẽ không bao giờ
muốn đi qua tiến trình nghiêm ngặt để xây dựng lại thế giới này hay
chính bản thân chúng ta. Không ai có thể sống hòa hợp với thế giới
mà lại không tự hỏi rằng thế giới này vận hành như thế nào. Đặt câu
hỏi tất nhiên là không mấy dễ chịu. Nó thách thức mọi thứ chúng ta
đang nắm giữ và đang được coi là thật.
Chúng ta cần quay lại trạng thái hồn nhiên như trẻ thơ, nhìn thế
giới như thể lần đầu tiên thấy mọi thứ mới mẻ, và một lần nữa đặt ra
những câu hỏi mà mọi đứa trẻ thường băn khoăn và người lớn thì đã
thôi không còn nghĩ đến nữa. Những câu hỏi như: “Tại sao lại có nỗi
đau?”
Thật đơn giản, mà cũng không kém phần sâu xa.
Chúng ta đã dùng toàn bộ đời sống trưởng thành để xây dựng
nghệ thuật chặn đứng nỗi đau, làm như nó không hề tồn tại. Nhưng
để có thể đi trên con đường – dẫn đến nơi kết thúc của nỗi khổ đau –
chúng ta cần bắt đầu nhìn nhận lại nỗi khổ đau của cuộc sống này
trên bề mặt.
Tôi vẫn nhớ rất rõ ràng lần đầu tiên tôi thật sự hiểu nỗi thống khổ
của cuộc đời này.
Tôi đến New York học đại học năm tôi 17 tuổi và ở đó trong vòng
10 năm. Tôi cùng sống trong một căn hộ ở East Village với một người
phụ nữ tên là Lisa cùng hai con mèo của cô. Điều này liên quan những
con mèo của Lisa. Nếu bạn đã từng sống với một loài vật nào đó ở
trong nhà, bạn biết chúng nhanh chóng trở nên thân thiện với bạn
như thế nào. Hàng ngày khi tôi trở về nhà lũ mèo đứng đón tôi ở
cổng. Và tôi vuốt ve chúng, cho chúng chút thức ăn và chăm sóc
chúng, cố gắng làm chúng vui. Và ngược lại chúng nũng nịu cọ xát
người chúng vào tôi, kêu grừ grừ thích thú và thể hiện cho tôi biết
chúng yêu tôi nhiều thế nào. Thật tuyệt.
Một ngày khi trở về nhà từ nơi làm việc, và lũ mèo lại ở đó trước
cổng như thường lệ, nhưng khi tôi bước vào nhà vào nói xin chào thì
chú mèo tên Max đứng đơ ra, cứ như nó được làm bằng đá vậy. Chú
mèo nấc một tiếng ho khan lớn và rồi ngã xuống một bên. Tôi vội vã
chạy đến và nhận ra chú mèo đã không còn thở nữa. Sự hoảng hốt
xâm lấn lấy tôi. Tôi làm gì đây?
Tôi bế chú mèo trên tay mình và gọi 911. Họ cho tôi địa chỉ bệnh
viện thú y gần nhất. Nó cách đấy 50 dãy nhà. Tôi chạy ra khỏi cửa với
Max trên tay mình, lòng thổn thức.
Vài người lạ tốt bụng gọi cho tôi một chiếc taxi. Người tài xế cố
hết sức mình để đưa tôi đến đó nhanh nhất có thể, thỉnh thoảng anh
nói vài lời trấn an tôi, nhưng vượt qua 50 lô nhà trong giờ tan tầm ở
Manhattan trong khi Max bé nhỏ vẫn không thấy thở. Tôi cảm thấy
thật vô vọng.
Tôi xông vào những cánh cửa bệnh viện, vào một phòng đợi đầy
ắp người với những con vật trong lòng họ, trông chúng đều khỏe
mạnh, họ nhìn chằm chằm vào tôi, và rồi có ai đó trong bộ áo choàng
trắng tiến đến và đỡ lấy Max từ tay tôi, sau đó tôi được đưa đến một
căn phòng yên lặng để khóc một mình. Khoảng 15 phút sau, vị bác sĩ
đi vào – không thấy Max. “Tôi xin lỗi,” ông nói. “Chúng tôi không thể
làm gì cả.”
Tôi bàng hoàng trở về nhà và cảm thấy lặng người đi cứ như
mình không còn tồn tại trên đời này nữa. Nhưng sự thật thì thực sự
không phải cái chết của Max đã làm tôi đau khổ. Đó là một biến cố bất
ngờ đã xảy ra khiến tôi nhận ra rằng những điều đó hoàn toàn nằm
ngoài tầm kiểm soát của tôi.
Đây là một sinh linh đã yêu tôi và phụ thuộc vào tôi – một sinh
linh tôi đã hứa chăm sóc cho nó – nhưng khi thời khắc quyết định
thực sự đến và Max thật sự cần đến tôi, tôi đã không có một sức mạnh
nào để giúp cho nó. Hoàn toàn bất lực.
Người Tây Tạng mô tả cuộc sống này như được lấp đầy bởi ba
loại khổ đau. Loại đầu tiên dễ nhận thấy nhất là loại như chúng ta vẫn
nghĩ một cách thông thường như là đau đầu cho đến tan vỡ trái tim…
Nó có thể là ở dạng thể chất hoặc tinh thần.
Nỗi đau thứ hai thì thú vị hơn, chúng là những gì chúng ta
thường gọi là sự thỏa mãn. Một bữa ăn ngon, một công việc tốt, một
người bạn trai/bạn gái tuyệt vời – tất cả những thứ này rồi cũng sẽ
mang lại nỗi đau cho chúng ta. Tại sao vậy? Bởi vì tất cả chúng cuối
cùng sẽ kết thúc. Ở một khía cạnh sâu xa nào đó chúng ta biết điều
này. Bởi vậy thậm chí khi chúng ta dường như vui thích với những
điều “hài lòng” cuộc sống mang lại, thì ở đâu đó có một nhận thức
khủng khiếp rằng chúng ta không bao giờ giữ được những thứ chúng
ta tận hưởng, cho dù có cố gắng đến thế nào. Hoặc là bữa tối sẽ không
còn gì, hoặc là nó dừng lại ngay lúc chúng ta nếm thử. Đó là cách xảy
ra với mỗi điều vui thích đơn lẻ của cuộc sống. Chúng ta không bao
giờ thỏa mãn. Và điều đó thật đau đớn.
Nhưng loại nỗi đau thứ ba mới là tồi tệ nhất. Nó được gọi là nỗi
đau toàn cục đỉnh điểm, và đó là thứ mà tôi đã thoáng trải nghiệm sau
khi Max chết: sự việc đơn giản là chúng ta hoàn toàn không có quyền
kiểm soát với những gì xảy đến cho chúng ta.
Người Tây Tạng có một câu nói:
Vào lúc cuối cùng
Cuộc đời đau khổ này
Luôn luôn hiển lộ bản tính tự nhiên của nó
Nhưng chính nó chỉ đến sau
Quãng thời gian dài may mắn trước đó
Chúng ta có thể sống một chốc lát trong sự phủ nhận, vờ như mọi
thứ là ổn, nhưng không sớm thì muộn bạn sẽ bị buộc phải đối diện
với cuộc đời. Không ai có thể xoay chuyển được điều này. Chúng ta
hoàn toàn vô vọng. Không sớm thì muộn người bác sĩ sẽ đến và nói
với bạn, “Tôi xin lỗi. Chúng tôi không thể làm được gì.” Và như thế
bạn đi đâu để tìm kiếm sự trợ giúp. Không ai có thể xoay chuyển được
điều này. Tất cả chúng ta biết điều sâu sắc này ở bên trong, và nó
khiến chúng ta kinh hãi.
Có lẽ cách tốt nhất để mô tả loại nỗi đau thứ ba này một cách đơn
giản là “điều sâu thẳm nhất của bạn, những nỗi sợ hãi tăm tối nhất.”
Thực ra cuộc sống không nhất thiết phải diễn ra theo cách này. Có
một nơi bạn có thể chạm tới, một nơi vượt thoát khỏi bất cứ ba loại
nỗi đau nào trong này, một nơi của bình an, một nơi của niềm phúc
lạc.
Hãy thiền định, và cùng hình dung ra nó.
Những nhân tố và thành phần cơ bản
Hãy bắt đầu thiền định. Nhưng chúng ta vẫn chưa nói về việc
thiền như thế nào, phải không các bạn? Người Tây Tạng có vài quan
điểm mạnh mẽ về cách dạy thiền như thế nào. Theo logic tự nhiên thì
có thể chúng ta phải bắt đầu với kĩ thuật, “làm thế nào” để thực hiện
điều đó, rồi chúng ta làm mẫu nó một lần, sau đó mới đến việc bắt
đầu thiền. Nhưng ở Tây Tạng, họ làm tất cả những điều trên đồng
thời cùng một lúc. Và có một lí do đặc biệt cho điều này. Người Tây
Tạng yêu cầu bạn đừng bao giờ hành thiền trừ khi bạn đang thiền
trên một đối tượng đúng đắn, có đạo đức – điều đó sẽ giúp biến đổi
tâm trí bạn thành những điều tốt đẹp hơn. Bởi vậy ngay ở giai đoạn
một, chúng ta sẽ có một đối tượng thiền định dễ thương và vững chãi.
Ngày xưa, và có lẽ cả bây giờ cũng vậy, có những người quá chú
trọng đến tiến trình thiền mà làm mất đi toàn bộ mục đích của việc
này. Họ trải qua toàn bộ cuộc sống để chạm đến những cấp độ ngày
càng sâu hơn của việc quán sát hơi thở, và cuối cùng cũng già và chết
đi như bao người khác.
Thiền định chỉ là một công cụ. Cũng như các công cụ khác, nó có
thể được sử dụng vào mục đích tốt hay xấu. Chúng ta đừng bao giờ để
bị mắc kẹt vào cái bẫy của tâm trí rằng tự thân thiền định là thành
quả. Nó chỉ là con đường đưa chúng ta đến đó, nếu chúng ta biết đi
đúng cách.
Vì thế chúng ta sẽ bắt đầu như người Tây Tạng – học kĩ thuật và
chủ đề cùng một lúc. Đan xen, kết hợp trong những bài thiền thực tế
dọc theo cuốn sách sẽ là những phần nhỏ về kĩ thuật thiền, được gọi
là “Những lời khuyên” (hay mẹo) sẽ giúp bạn nhiều hơn trong khía
cạnh thực hành thiền định. Đây là lời khuyên đầu tiên.
KINH NGHIỆM THIỀN TẬP
CHỖ NGỒI THIỀN CỦA BẠN
Có thể bạn sẽ nghĩ rằng đâu cần phải nói gì nhiều về việc ngồi
xuống một tấm đệm, song tìm chỗ ngồi phù hợp rất cần thiết cho việc
thực hành thiền định. Bởi vì thân và tâm được kết nối một cách trọn
vẹn nên cách thức chọn địa điểm và tư thế ngồi sẽ tác động đến tâm
trí của bạn.
Chúng ta nên tìm một chỗ ngồi thật thoải mái đến mức chúng ta
có thể để toàn bộ cơ thể của mình ở lại đó và đi vào thế giới của
những suy tưởng thanh khiết. Đồng thời tư thế này phải giúp chúng
ta thiền được tập trung. Nếu chỗ ngồi quá thoải mái đến nỗi bạn ngồi
rũ xuống, ngủ gà ngủ gật thì nó không tốt đâu. Và cuối cùng, chúng ta
cần một tư thế thật vững vàng, ổn định – khi tâm trí chúng ta đi sâu
vào đối tượng thiền, hẳn chúng ta sẽ không muốn mất đi một nửa sự
tập trung vào cơ thể của mình nữa.
Người Tây Tạng đã phát triển nhiều tư thế thiền có ích để phù
hợp với ba yêu cầu này. Tại sao lại là nhiều? Bởi vì mỗi người chúng
ta đều khác nhau. Bạn cần thử và quyết định tư thế nào là tốt nhất
cho mình.
Chúng ta sẽ bắt đầu từ phần dưới và đi lên – Chúng ta ngồi lên cái
gì? Thường thường, đầu tiên bạn sẽ đặt một tấm đệm hình vuông có
chất liệu mềm mại với kích thước khoảng 0,9m x 0,9m. Nó có thể là
một tấm thảm hay một cái chăn được gập lại, và nó phải không được
dày quá, chỉ đủ để đầu gối bạn không bị chạm xuống sàn nhà. Tiếp đó
bạn sẽ đặt tọa cụ (bồ đoàn) lên trên bề mặt tấm thảm để khi ngồi
hông được nâng lên cao hơn đầu gối. Cao bao nhiêu thì tùy thuộc vào
bạn, nhưng cái quan trọng là hãy thử các kích cỡ khác nhau và hình
dạng của tấm đệm để chọn ra được cái phù hợp nhất với cơ thể mình.
Một điều nữa – hãy chắc rằng cả phía trên và phía dưới tấm đệm
được làm bằng vải sợi tự nhiên, không phải vải nhân tạo. Ngày nay
các loại đệm thiền rất dễ kiếm. Cá nhân mình, tôi thích những tấm
đệm hình bán nguyệt được đổ đầy vỏ lúa mạch – Hạt lúa mạch có thể
chuyển động được bên trong nên rất dễ dàng để cân chỉnh tấm đệm
của bạn tới một độ cao hoàn hảo.
Tiếp theo là – vị trí chân như thế nào? Tư thế phổ biến nhất ở Tây
Tạng là tư thế bán già (nửa bông hoa sen), bạn ngồi bắt chéo một
chân lên bắp vế chân bên kia. Thường thì chân trái sẽ để ở bên trên,
và chân phải được gập xuống dưới, nhưng tôi được biết các Lạt Ma
họ làm ngược lại, vì vậy bạn hãy thử cả hai cách và xem cách nào
thoải mái cho bạn.
Bạn có thể chọn lấy tư thế đơn giản là đan chéo hai chân vào nhau
bình thường cũng được, nhưng tư thế bán già, đặt một chân lên bắp
vế chân kia sẽ giúp bạn vững vàng, ổn định hơn khi ngồi và nó cũng
giúp bạn thẳng được sống lưng. Khi sống lưng được giữ thẳng, nó
quyết định đến việc tập trung được tốt.
Có một tư thế nữa là tư thế kiết già (tư thế hoa sen trọn vẹn) mà
bạn có thể lựa chọn. Tư thế này là cả hai chân của bạn đều được vắt
lên trên bắp vế của chân kia. Tư thế này rất mạnh mẽ: nó chốt toàn bộ
cơ thể vào vị thế thiền một cách chặt chẽ và nó tác động lên các
đường kinh mạch tinh tế trên cơ thể để cho bạn sự tập trung cao độ.
Nhưng nếu các cơ khớp chân bạn không được mềm dẻo thì nó có thể
làm đau đầu gối bạn. Nếu bạn muốn thử tư thế này thì tôi đề nghị bạn
hãy làm từ từ – hãy ngồi trong tư thế hoa sen này một phút mỗi ngày,
khi bạn đã quen và thấy thoải mái với một phút rồi thì hãy thử nó
trong năm phút, và cứ thế dần dần.
Hai đầu gối có làm đau bạn không? Như tôi đã nói ở phía trên,
điều quan trọng là sự thoải mái. Thế nên nếu bạn là một trong những
người không thể ngồi trong bất cứ tư thế vắt chéo chân nào thì hãy
ngồi trên một chiếc ghế bình thường, điều đó sẽ tốt hơn với bạn.
Trong trường hợp đó, bạn có thể ngồi với cả hai chân đặt trên sàn
nhà một cách chắc chắn, và nếu có thể, bạn hãy thử ngồi ở mép rìa
ngoài của ghế, giữ cho sống lưng mình thật thẳng mà không cần dựa
lưng vào ghế.
Tiếp theo là phần thân của bạn – hãy giữ cho lưng thẳng và thư
giãn xương sống của bạn. Có một điểm cân đối chúng ta cần tìm ra
giữa việc ngả lưng quá xa về phía sau và ngả lưng quá xa về phía
trước. Khi không tìm được điểm cân đối này thì đầu tiên nó sẽ khiến
tâm trí bạn vẩn vơ, khó tập trung, và nó có thể khiến bạn buồn ngủ.
Bởi vậy thật quan trọng để xương sống được nghỉ ngơi. Đầu tiên, hai
khung xương được gọi là “xương chậu” ở mặt dưới của mông nên
được đặt chắc chắn dưới sàn nhà (hay mặt ghế), cho phép phần thân
của bạn được thẳng.
Sau đó thì hãy chắc chắn tất cả các đốt sống lưng của bạn được
thẳng – những văn tự cổ xưa nói hãy thẳng như một chồng tiền xu.
Để làm vậy, bạn có thể tưởng tượng một sợi dây ở đỉnh chóp đ...
 





